Phòng Giáo dục và Đào tạo Bắc Hà

Sunday, 18/11/2018|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử phòng GD&ĐT Bắc Hà
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Người cựu Bí thư Đảng ủy xã gương mẫu đi đầu trong công tác dân vận.

           Ở Lầu Thí Ngài có một con người của công việc, của lòng say mê, say sưa với đất, với rừng, với công tác dân vận. Bắt đầu vào xã, hỏi ai cũng biết, họ trả lời đầy tự hào: Đó là ông Giàng Seo Hòa- Nguyên bí thư Đảng ủy xã. Người tiên phong đi đầu đã nghĩ là làm người đã là cầu nối giữa nhân dân với đường lối của Đảng, người đã kích thích khêu gợi cách làm giàu tại một xã nghèo.

           Là con thứ hai trong gia đình. Đảng viên Hòa đã từng tham gia các chức vụ khác nhau : Phó chủ tịch – trưởng công an xã ( giai đoạn 1983-1984), năm 1999 ông là chủ tịch UBND xã, năm 2004 làm bí thư Đảng Ủy xã, năm 2010 ông về hưu. Ngay từ khi ông đang làm cán bộ quản lý ở địa phương ông đã đăng ký chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc

          Ông Hòa với nước da ngăm đen, đầu hay đội mũ lưỡi trai, vai khoác túi dết, tay cầm con dao phát. Bàn chân ông cắt ngang, cắt dọc cánh rừng Ông Hòa với dáng vóc hơi cao, luôn nở nụ cười và gặp ai đến là bắt tay rất chặt. Với nước da bánh mật dáng đi đĩnh đạc. Vẫn vành mũ lưỡi trai, vẫn chiếc áo màu xanh cánh trả, ông đi về hướng tây- Nơi ấy có cung rừng của ông, nơi ấy có ông mặt trời tán sắc vào buổi chiều muộn.

            Với bất cứ ở cương vị nào, từ trưởng công an đến phó chủ tịch, rồi chủ tịch xã, bí thư Đảng Ủy xã hay về hưu, Người Đảng viên Giàng Seo Hòa luôn gương mẫu đi đầu trong các phong trào xây dựng trường sở, sưu tầm ca dao- dân ca tham gia viết dư địa chí, viết lịch sử Đảng bộ xã, và giờ đây ở đô tuổi sáu mươi sáu ông lại say sưa trong công việc trồng rừng và bảo vệ rừng.

          Ông đã tham gia lãnh đạo xã qua các thời kỳ: Khóa XVI từ 2000-2005 làm phó bí thư Đảng ủy xã; Khóa XVII 2005-2010 Bí thư Đảng bộ xã. Năm 1995-1996 được chủ tịch tỉnh Lào Cai tặng cờ thi đua cho xã Lầu Thí Ngài về phong trào thi đua mở đường giao thông nông thôn. Năm 2003, chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai tặng bằng khen về phong trào giao thông nông thôn và bằng khen về kiên cố hóa trường lớp hoc. Năm 2006 chủ tịch UBND tỉnh Lào cai tặng cờ thi đua cho xã Lầu Thí Ngài về thực hiện dự án giảm nghèo năm 2002-2007. Tất cả, là công lao đóng góp của Đ/C với cương vị là bí thư, hay chủ tịch UBND xã, Đ/C luôn là tấm gương sáng cho các Đảng viên học tập.

          I. Thời kỳ làm phó chủ tịch xã. Làm bí thư Đảng Ủy xã.

          Ông làm phó chủ tịch- trưởng công an ( năm 1983-1984), thời ấy bao cấp thật gian nan, cả nước nghèo khó. Nhà nước giúp xã về con giống. nhà nhà được giống lúa. Nhân dân cứ nhận từng cân giống ngay tận sân Ủy ban. Cánh bảo thủ khi nhận giống lúa rất nhanh nhưng lại làm theo lối cũ. Từng thôn bảo nhau và đem từng cân giống ngâm nước. Họ bỏ ngoài tai những câu chuyện đổi mới. Kết quả: Mạ ra cây nhưng không đều, khi đem cấy thì mọc lởm chởm, thân không cứng. Khi gieo trồng thì vẫn theo tập quán. Vẫn đem giống mới ngâm nước. Việc xử lý đồng ruộng không kỹ. Kết quả: Lúa không nảy mầm. Đám này có nảy nhưng cây chậm phát triển, không đẻ nhánh.

          Một hội nghị đầu bờ được tổ chức. Tinh mơ bà con tụ tập. Đứng bên cạnh chủ tịch hội nông dân, phó chủ tịch UBND Giàng Seo Hòa cầm hạt giống trên tay và giải:

          -Thưa bà con! Giống mà chúng ta lấy tại sân Ủy ban là giống mới. Đã là giống mới thì phải gieo trồng theo đúng qui trình, Khoa học là cái chìa để mở. Ta phải cày bửa, trộn phân cho đúng và đủ.

          -Bà con chú ý, bà con lưu ý đây là giống mới. Giống này ưa đất rải phân, ưa sục bùn, ưa cả đường bừa.

Ông quay lên, nói với mọi người:

          -Thân cứng là do ka li. Ka li có ngay trong tro bếp. Ka li còn có ký hiệu trên vỏ bao này.

          Hòa vắt thừng, bừa trên ruộng mới tháo nước. Một tay quải, một tay vắt. Từng hạt phân rải đều trên vạt bậc thang, con trâu đi theo chủ, lại sục bùn, lại bừa tiếp. Một tiếng trôi, Hòa hướng dẫn lại kỹ thuật trồng. Hạt thóc rải đều trên cung ruộng vừa sục. Ba tuần, Mạ phủ xanh 

          -Thưa bà con! Giống mà chúng ta lấy tại sân Ủy ban là giống mới. Đã là giống mới thì phải gieo trồng theo đúng qui trình, Khoa học là cái chìa để mở.  Từng cung ruộng bậc thang, nước dẫn về. Hòn đất được cày ải, bừa sục. Phân gio được rải đều. Giống mới được đưa xuống. gần một tháng sau, mạ được nhen lên. Một hòn đất nỏ, hơn một giỏ phân. Năm ấy được mùa lúa, năng xuất cây trồng đạt cao. Nhà nhà quây thêm cót thóc, trẻ em đến trường được vui tươi.

          Ông còn kể cho tôi nghe về đồng bào sợ mua phân giả. Khi cân xong, đồng bào quệt phân NPK lên miệng để thử. Về sau, cũng hội nghị đầu bờ, ông mời cán bộ phòng nông nghiệp giới thiệu lại các ký hiệu trên vỏ bao. Từ đó, dân ngấm dần, tiếng nói kỹ thuật ngấm dần mảnh đất. Ông đã giao cho khuyến nông viên thu thập, chuẩn bị các vỏ bao các loại phân để cán bộ huyện giải thích rõ các chỉ số ghi trên bao. Cả bao hạt giống nữa.

          Từ việc gieo trồng thắng lợi của thôn Lử Chồ 1, Pờ chồ 1,2 đã lan rộng cho các thôn Dì Thào Ván, Dín Tủng, Lử Chồ 2 tiếp theo xử lý và trồng lúa theo kỹ thuật mới.

          Khi là bí thư Đảng bộ xã ( từ tháng 7/2004-2010), ông trăn trở về thế hệ học sinh. Trước hết là tỷ lệ chuyên cần. Có tỷ lệ chuyên cần là có hết. Bảy thôn trong toàn xã, bảy thôn đã đi vào nghị quyết. Người bí thư Đảng Ủy năm ấy đã giao kế hoạch cho các thôn về số lượng học sinh từ mẫu giáo đến cấp THCS. Hụt học sinh, công an thôn đến trưởng thôn đều vào cuộc. Những học sinh khó gọi nhất, hoàn cảnh éo le nhất ông nhận về phần mình.

          Cảm động nhất là một hôm, từ sáng sớm tinh sương, trước giờ truy bài, ông đã bàn giao cho tôi một học sinh. Trong câu chuyện ông tâm sự là đã mua đôi dép tổ ong cho em ấy. Rằng ông hứa sẽ quan tâm tới hoàn cảnh gia đình ấy hơn. Đôi dép tổ ong đã trở thành ký ức trong tiềm thức Hiệu trưởng trường THCS. Đôi dép được nhắc tới trong các cuộc họp phổ cập giáo dục. Số lượng học sinh đã đi vào nghị quyết Đảng Ủy, là thước đo về phong trào thi đua cho cán bộ xã. Tỷ lệ chuyên cần ấy đã là thước đo dựng xây lên từng tiêu chí, tiêu chuẩn trong cuốn hương ước thôn bản xã Lầu Thí Ngài.

         II. Kêu gọi nhân dân hiến đất xây dựng trường THCS

          Ngày trước, trường Tiểu học và THCS chưa tách, nề nếp chuyên cần của cả hai cấp có giảm, sinh hoạt chuyên môn chưa rõ, cơ sở vật chất quá thiếu thốn. Khi được sự gợi ý của Đảng Ủy, sự chỉ đạo của Đảng bộ xã về chuẩn bị tách trường THCS và tiểu học. việc xây dựng Giải phóng mặt bằng là khó, mở rộng mặt bằng còn khó hơn.

          Anh bàn bạc cùng Đảng Ủy xã, đưa vào nghị quyết chuẩn bị CSVC cho trường THCS. Ngày là vậy, đêm anh đi vận động dân vào cuộc. Đó là sự hiến đất làm trường THCS. Ban đầu, dân chưa hiểu, chưa thấy tầm quan trọng về giáo dục, nhà nhà sợ mất đất, mất đất là mất đi các nguồn thu hập. Mất đất là mất đi từng sinh ngô cho từng hộ gia đình. Chủ tịch xã đã kiên trì vận động trong từng gia đình, trong từng dòng họ. Phâ tích được cái được cái mất, nhưng cái được nổi trội hơn. Theo ông, Đã nói lên tầm quan trọng giáo dục địa phương và mưa lâu, ngấm đất, Ba hộ nông dân Vàng Seo Phần A, Vàng Seo Phần B, Lý Thìn Lẻng ( dân tộc Dao), Giàng Seo Dìn đã hiến đất cho xây trường THCS. Tổng số đất của ba hộ đã hiến đất xây dựng trường THCS Xã Lầu Thí Ngài là: 5 cung ruộng bậc thang với diện tích là : 4 136,4 m2. Năm ấy, tháng ấy đền bù dân không có, dân tự nguyện tham gia góp đất xây trường. Năm 2005 đã được UBND huyện Quyết định thành lập trường THCS Lầu Thí Ngài. Chủ tịch, phó bí thư Đảng ủy xã Giàng Seo Hòa luôn nhắc nhở trong ban thường vụ:

          Phải bắt đầu từ dân, phải thấu hiểu đời sống của dân, chỉ có dân mới làm lên, mới xây dựng xã nhà.

           III. Nói thật, phản ánh thật về thực trạng xã “có cầu mà không có đường”.

         Thời bao cấp, chương trình 167 đã làm cầu treo cho xã, kết nối giữa ba thôn bên này và ba thôn bên kia. Nhưng đường nối giữa thôn Lử Chồ 1,2 đến với cầu là khó, vẫn là đường mòn, dốc trượt, ông đã kêu gọi nhân dân bỏ công sức tự làm, nhưng con đường vẫn nhỏ, xe tải không đi vào được,. Không lé tránh thực tại, không vì thành tích và tấm lòng thương dân, vì dân, ông đã trả lời các nhà báo và đưa ra ý nguyện của nhân dân. Thế là bài báo: “Có cầu nhưng không có đường” đã được nhà báo Tự Đức vào cuộc, phát hành trên trang báo Lào Cai. Việc ấy, Đảng bộ Huyện Bắc Hà vào cuộc. Kết quả sau cuộc khảo sát và con đường nối từ thôn Lử Chồ 1 với cây cầu treo đã mở rộng. Xe cộ đi lại dễ dàng. Bà con phấn khởi, hàng hóa thông thương.

          Thế hệ nối tiếp thế hệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Ủy xã đến nay con đường liên thôn vào các thôn đã được bê tông hóa, nhà văn hóa đã được hình thành và sửa sang, các hộ gia đình đều được nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh, làm chuồng trâu bò xa nơi ở… tất cả đã tham gia vào hòan thiện các tiêu chí, tiêu chuẩn xây dựng nông thôn mới. Bộ mặt nông thôn được thay đổi đáng kể. Kết quả ấy, cũng là đúc rút kinh nghiệm từ nguyên bí thư Đảng ủy Giàng Seo Hòa.

           IV. Sưu tầm, biên dịch cuốn Dư địa chí, cuốn lịch sử Đảng Bộ xã Lầu Thí Ngài

          Thời làm bí thư Đảng Ủy xã ( từ năm 2004 đến năm 2010), Bí thư Đảng Ủy Giàng Seo Hòa lại lo lắng cho thế hệ con cháu của xã Lầu Thí Ngài. Mảnh đất này đã sinh ra từng câu dân ca, từng địa danh của xã cũng lặn bên trong dấu mốc lịch sử đáng quý. Quê hương cách mạng Dì Thào Ván còn kia, già làng từ thời tiễu phỉ vẫn còn kia … và cứ thế đã nảy ra trong ông niềm đam mê nghiên cứu, sưu tầm dư địa chí địa phương. Ông đem ra bàn, ban chấp hành Đảng Ủy biểu quyết, ông phân công trách nhiệm cho từng thành viên. Ngót nghét hơn nửa năm, cuốn dư địa chí xã ra đời. Trên đà thắng lợi, ông lại say sưa cùng đồng đội xây lên cuốn lịch sử Đảng của xã. Trang lịch sử ấy đã đi vào thực tiễn, trở thành cẩm nang trong Đảng Ủy, các nhà trường dùng nó để tuyên truyền. Từ đây, học sinh các lớp tự hào, yêu quê hương mình hơn. Từ đây những địa danh, tên gọi đã rõ ràng, rành mạch và có số phận của nó. Trang lịch sử đó tiếp thêm sức mạnh cho học sinh hiểu rằng: Quê hương cách mạng của xã là thôn Dì Thào Ván. Lịch sử xã đã đi vào các nhà trường, như cái giấy thông hành không biên giới, ngày mỗi ngày đã đi vào từng suy nghĩ của thế hệ học trò.

          Nội hàm cuốn Dư địa chí, cuốn lịch sử Đảng Bộ xã là tài sản vô giá của nhân dân các dân tộc tòan xã. Nó là phát ngôn của địa phương, đã mở đường cho các nghị quyết, hướng đi mới cho xã. Nó là cầu nối giữa quá khứ lịch sử với hiện tại và vươn tới tương lai. Cuốn lịch sử ấy đã nằm trong từng hồ sơ chi bộ, trong các thư viện nhà trường. Cuốn lịch sử chỉ vẻn vẹn 143 trang ( thời kỳ 1950-2015) là tiếng nói của các đồng chí cán bộ đã từng hoạt động, công tác ở xã; các đồng chí lãnh đạo xã qua các thời kỳ. trong đó có sự đóng góp đáng kể của Đ/C Giàng seo Hòa.

          Từ đây, trong các nhà trường đã được sử dụng cuốn lịch sử Đảng bộ xã giai đoạn 1950-2015 có sự thẩm định chỉnh lý của ba thường vụ Huyện Ủy Bắc Hà, In xong và nộp lưu chiểu tháng 1 năm 2017. Cuốn lịch sử đã trở thành cẩm nang, là pho lịch sử hiếm và quí cho các nhà giáo và học sinh trong các nhà trường. Từ đây, học sinh mới hiểu tên đất Lầu Thí Ngài là: Bậc thang đá, thôn Dín Tủng là cái điếu cày và quê hương cách mạng tiễu phỉ của xã là thôn Dì Thào Ván.

          Được tham gia nhóm viết lịch sử, ông đã động viên cộng sự tham gia. Cái gì chưa đúng, chưa chuẩn, chưa chính xác ông lại gặp dân hỏi dân sao cho tường tận. Cuốn dư địa chí đã cung cấp chứng cứ lịch sử để bổ sung, dựng xây lên cuốn lịch sử Đảng Bộ xã Lầu Thí Ngài giai đoạn 2015. Năm 2017 cuốn lịch sử Đảng bộ xã được ra đời. Đó là phát ngôn, là tiếng nói cội nguồn của cả cộng đồng nhân dân trong xã. Cái bản lề dân vận là cuốn lịch sử này. Công tác dân vận là gần dân hiểu dân. Và cũng cho dân hiểu về lịch sử nơi mình sinh ra và đang sống.

          Đảng viên Giàng Seo Hòa đã làm tốt công tác dân vận. Dân vận thông qua câu chuyện tiếp xúc với dân. Sách Dư địa chí, lịch sử Đảng bộ đã được độc giả đón nhận với tinh thần tự nguyện, từ đó mở ra con đường sáng khi hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới hiện nay.

          Ông luôn nhắc nhở các nhà giáo cần tổ chức những buổi ngoại khóa để sưu tầm câu dân ca, ca dao. Ca dao dân ca cũng giống như ngọn lửa trong bếp. Bếp lửa vùng cao vùi khoai, rang chè, sưởi ấm cho căn nhà trình tường. Nội dung cuốn dư địa chí đã đi vào trong từng trường học, đã là pho lịch sử bằng vàng của tiến trình đi lên của xã. Từ đây, học sinh có thể trả lời rành mạch và tự hào về Quê hương cách mạng Dì Thào Ván. Từ đây học sinh có thể giải thích cho cộng đồng về tên núi, tên làng và ý nghĩa của nó. Cuốn dư địa chí đã là địa chỉ tin cậy, các nhà giáo dựa vào đó để xây lên mô hình trường học gắn với thực tiễn. Học sinh gắn với mái trường hơn, hoạt động này đã là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và vươn tới tương lai. Ông là chủ cây bút sưu tầm, tập hợp viết lên.

          Năm học 2015-2016, đề tài Nghiên cứu khoa học : Đem ca dao- dân ca vào giảng dạy tại trường PTDTBT THCS Lầu Thí Ngài đã được thể nghiệm tại Tỉnh Lào Cai. Đây là minh chứng sống phát huy bản sắc của địa phương, dân tộc trong đó có sự đóng góp của Đảng viên Giàng Seo Hòa

            V. Tham gia trồng rừng và bảo vệ rừng.

          Trên tay tôi là cuốn sổ đầu tư dự án 327 lâm trường Bắc Hà, chủ nhân cuốn sổ đó là ông Hòa.  Mở cuốn sổ ra được biết năm 1995 ông đã nhận trồng rừng là 34,4 ha, chăm sóc rừng là 10,8 ha. Cuốn thứ hai là cuốn sổ đầu tư dự án 5 triệu ha rừng Huyện Bắc Hà, số sổ đầu tư: 17; số ha bảo vệ rừng ( năm 1999): 79,6 ha, chăm sóc và trồng rừng là 20,2 ha.

          Chỉ tính riêng năm 1996 ông có tham gia trồng rừng phòng hộ với lâm trường Bắc Hà theo chương trình 327 với diện tích 18,8 ha, rừng trồng thuần loài cây sa mộc thuộc địa giới hành chính tai thôn Là Dì Thàng, xã Tả Van Chư.

        Bằng ấy co số chăm sóc rừng, trồng rừng là đủ biết ông là con người bám đất, bám rừng bền bỉ, thủy chung.

          Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc theo quyết định 178 của chính phủ đã làm thay đổi nếp cũ, tập tục địa phương. Chương trình đã là ngọn gió lành. Giàng Seo Hòa đã đón ngọn gió đó như một cơ hội để dệt lên màu xanh trên quê hương.

Cánh rừng chạy dọc theo con đường 153, vòng quanh vạch nối từ Lầu Thí Ngài, qua Lùng Phìn sang Tả Van Chư, màu xanh ngút ngàn điệp trùng tới tận cổng trời. 60 héc ta rừng, mỗi héc ta trồng 1200 cây . Cả khu rừng ấy đã trồng là 72.000 cây. Bảy mươi hai nghìn cây thông với độ tuổi hai mươi- ba mươi năm, người Đảng viên già đã trồng và giữ là vậy. Bảy mươi hai nghìn cây đã phủ xanh mảnh đất bạc màu. Về trước mảnh đất này phần lớn là đồi trọc, là đất sít pha với mi ca chỉ ưa cây lau, cây ràng ràng. Nay, đã trở thành màu xanh của thông, dệt lên màu hoa tam giác mạch ở phần chân rừng. Người đảng viên già sáu mươi sáu tuổi cần mẫn, chịu khó, kiên trì tay phát cỏ, vai đeo túi dết bám rừng.  Có thể gọi đó là kỳ tích trồng rừng phòng hộ. Từ cánh rừng này đã là nguồn minh chứng đi vào nghị quyết Đại hội Đảng Bộ Huyện Bắc Hà lần thứ XXIII. Đảng bộ Huyện xác định : Nông lâm nghiệp là chủ yếu - Du lịch là quan trọng, xây dựng Đảng là then chốt.

        Cuốn sổ đầu tư dự án chưa nói hết những điều cần nói. Đằng sau, tương lai mai sau của cánh rừng, đó mới là tiếng nói của rừng. Tiếng nói ấy đã góp phần minh chứng cho nghị quyết Đại hội Đảng Bộ Huyện Bắc Hà lần thứ XXIII. Việc trồng và chăm sóc rừng đã là nguồn minh chứng cho chủ đề của Đại hội. Từng nguồn nước trong veo, từng cung ruộng bậc thang dưới cánh rừng…. Tất cả đã hòa nhập vào dòng chảy du lịch, đó và vẫy chào du khu khách ở lại du lịch cộng đồng với Bắc Hà nói riêng, Lầu Thí Ngài nói chung. Chiếc cầu nối giữa rừng và du lịch được bắc, trong đó có sự cần cù, chịu khó của người đảng viên Giàng Seo Hòa ở độ tuổi 66.

          Ông biết từng đặc tính của các loại cây. Cây thông xanh, cây thông trắng, chung quy là giống nào cũng tốt, dòng họ nào cũng quí. Đất, đá, cỏ cây ngấm trong ông. Mạch ngầm ấy đã nuôi trong ông một tình yêu là màu xanh, là màu đất, là cây cối. Rừng đã nuôi ông lớn, nó giống như người mẹ che chở cho đứa con chiếc áo. Chiếc áo màu xanh khổng lồ nằm sát bên cung đường 153.

          Ông sót xa với những cánh rừng bị tàn phá. Ông đứng nhìn về một thung lũng, bàn tay mân mê bên gốc cây bị cắt chặt. Từng cây sa mu bị đứt phăng, nhựa ứa ra vàng trong. Ông đau đáu nhìn về phương trời xa, đau đáu nhìn về khu dự án 661. Nơi mà ông đã kêu cứu. Nơi mà ông đã đăng ký trồng rừng. Nguyên nhân là đâu? Do đâu? Tại sao lại có chuyến xe chở gỗ ban đêm. Và ông đã nhìn thấy lỗ hổng ấy, nhưng giải quyết được lỗ hổng như thế nào?.

          Tôi đã chứng kiến nỗi đau của ông trước một cây Sa mu bị chặt. Nhựa ứa ra đặc quánh trong như miến dong vừa nấu. Dòng họ thông tía dễ đến ngót năm mươi. Chân quì, tay bóc luôn miếng gỗ chặt còn vương lại. Đứng dậy, ông đặt nó trên lòng bàn tay nhìn vào khoảng trống. Ông lại quì xuống lần nữa xòe bàn tay ra đo thân gốc. Lấy cuốn sổ tay, ghi ghi chép chép. Tội ác này ông đã lường trước nhưng bọn lâm tặc quỷ quái chặt cây này vào quá nửa đêm. Bữa ấy, ông đã bỏ cơm và làm chén rượu suông. Chắc ông suy nghĩ mông lung lắm.

          Niềm yêu của ông không phải nó tự có mà do rèn luyện mà nên. Cao hơn và vượt lên trên hết đó là tấm lòng. Tấm lòng yêu mến quê hương, làm nhiều hơn nói. Ý thức được việc làm và vượt qua muôn và cái khó ông đã tô điểm màu xanh lên bản đồ cấp xã. Màu xanh rừng thông đã đi vào nghị quyết của Đại hội Đảng Huyện Đảng bộ Bắc Hà lần thứ XXIII. Niềm tin ấy bắt đầu bằng chủ đề của Đại hội Đảng bộ (khóa XXIII) nhiệm kỳ 2015-2020 : Du lịch - Nông lâm nghiệp làm then chốt. Ông mỉm cười vì trong chủ đề ấy có nhắc tới rừng, nhắc đến du lịch. Rừng che phủ đồi trọc, giữ lại nguồn nước, rừng còn tham gia vào tua du lịch cộng đồng. Một màu xanh ngút ngàn điệp trùng lô xô chạy dài cùng con đường 153. Màu xanh nuôi dưỡng ước mơ, ấp ủ giấc mơ trong ông.  

          Ở Lầu Thí Ngài có một con người như thế! Đó là con người của công việc, của lòng say mê, say sưa với đất, với rừng, với công tác dân vận.Cái nguyên lý: Cứ làm để củng cố lý thuyết như mạch ngầm, dòng chảy trong tư duy người Đảng viên Giàng seo Hòa. Sản phẩm mà ông đã vun đắp đó là màu xanh dễ nhìn thấy. Cái cao cả hơn thế đó là sản phẩm của tư duy trí tuệ đó là pho lịch sử Đảng bộ xã do ông đã sưu tầm và đóng góp. Nó để lại cho hậu thế về kho tri thức của ông bà. Vận động nhân dân hiến đất, xây dựng mái trường THCS hay là việc vận động học sinh tới lớp, tự mình mua dép cho học sinh đã là bài học quí cho các nhà giáo noi theo. Ông đã đem kỹ thuật, khoa học, niềm đam mê để thấm trong suy nghĩ của nhân dân. Chất khoa học, niềm yêu rừng hòa cùng mạch nước ngấm sâu trong mảnh đất. Màu xanh điệp trùng đã che chở cho địa bàn xã. Rừng Sa mu đã là mái nhà, là lá phổi của cộng đồng dân cư các dân tộc huyện Bắc Hà.

.           Ông không kể về mình, nhưng công việc đã kể về ông. Sự đóng góp ấy nó giống như cây Sa mu, nhiều cây Sa mu mới trở thành rừng. Đó là sức mạnh và lòng quyết tâm bừng cháy trong tiềm thức người Đảng viên vùng cao.

Đảng viên Giàng Seo Hòa tự xây cho mình một cá tính mạnh mẽ, quyết đoán. Với ông chậm nhưng chắc còn hơn nhanh và ẩu. Người đã dệt lên màu xanh cho quê hương, người nhóm lửa khát vọng cho học sinh trong toàn xã học tập và noi theo.

          Đỗ Văn Dinh


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 378
Hôm qua : 438
Tháng 11 : 6.648
Tháng trước : 1.540
Năm 2018 : 20.076
Năm trước : 281
Tổng số : 20.357